Món ngon cho trẻ suy dinh dưỡng

Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở Việt Nam hiện nay có giảm nhiều so với những năm trước đây. Tuy nhiên vùng sâu, vùng xa, số trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn cao hơn nhiều so với các thành phố, biểu hiện là trẻ thấp bé nhẹ cân, sức đề kháng yếu dễ mắc các bệnh nhiễm trùng càng làm trẻ suy dinh dưỡng nhiều hơn.
Các món ăn sau đây sẽ giúp các bé có được bữa ăn ngon, dinh dưỡng, tăng cân khỏe mạnh.

Canh sườn nấu đậu trắng khoai môn

NGUYÊN LIỆU :
- Sườn non 300g 
- Đậu trắng 100g
- Khoai môn 500g
- Hành lá
- Nước mắm, đường, muối,dấu, tiêu …
CÁCH LÀM :
- Sườn rửa sạch, cắt miếng vừa ăn trụng qua nước sôi.
- Khoai môn gọt vỏ cắt miếng vuông vừa ăn
- Đậu trắng rửa sạch để ráo.
- Hành lặt rửa sạch cắt nhỏ.
- Bắc soong nước đủ dùng nấu sôi cho sườn, đậu trắng vào nấu nấu lửa nhỏ.và vớt bọt thường xuyên.
- Sườn, đậu vừa mềm để khoai vào, khoai mềm nêm lại vùa ăn, thêm hành nhắc xuống.
Gà viên sốt cà

NGUYÊN LIỆU :
- Thịt gà xay 300g 
- Cà chua 200g
- Bột năng 2 muỗng cà phê
- Hành lá xắt nhỏ
- Nước mắm, đường, muối,dấu, tiêu …
CÁCH LÀM :
- Thịt gà xay trộn với chút nước mắm, dấu ăn, đường, bột năng, hành lá … quết thật nhuyễn cho thịt dai để thấm chừng 10 phút.
- Vo thịt gà thành những viên tròn vừa., chiên vàng đều
- Cà chưa rửa sạch , bỏ hạt băm nguyễn.
- Bắc chảo dầu cho cà chua vào xào với chút muối sau đó để gà viên vào đảo đều thêm chút nước nấu lửa nhỏ 10 phút, gà thấm nêm lại vừa ăn.
- Khi nước sốt sanh sánh thêm hành lá vào nhắc xuống.
THỰC ĐƠN TRONG TUẦN
Ngày
Sáng
(6g30 - 7g30)
Phụ sáng
(9g00)
Trưa
(11g00 - 11g30)
Phụ xế
(14g00 - 14g30)
Chiều
(17g00 - 17g30)
Tối 
(20g00 - 20g30)
Thứ hai
Phở gà
Bánh flan
Sữa
Cơm 
Canh cua rau dền mồng tơi
Trứng chiên thịt cà chua
Sa bô chê
Uống sữa
Yaourt
Cơm 
Canh bí đỏ thịt 
Cá thu kho
Chuối cau
Sữa
Thứ baSandwich trứng ốp la   Nước camSữa
Cơm 
Canh cải dún thịt
Khoai tây xào cà chua thịt bò
Dưa hấu
Uống sữa
Bánh bò hấp
Cơm 
Canh mướp bún tàu thịt băm
Thịt kho nấm rơm
Quýt
Sữa
Thứ tư
Hoành thánh
Thanh long
Sữa
Cơm
Canh khoai môn, đậu trắng sườn non
Giá xào gan heo
Xoài
Uống sữa
Đậu hũ nước đường
Cơm 
Canh cải ngọt tép
Gà viên sốt cà 
Vú sữa
Sữa
Thứ năm

Bánh cuốn
Uống sữa
Yaourt
Bò kho - bánh mì
Sinh tố bơ
Uống sữa
Trứng cút luôc
Cơm 
Canh chua cá hú thơm cà ..
Cá chiên tươi
Dưa lê
Sữa
Thứ sáu
Cháo lươn đậu xanh
Phô mai
Sữa
Cơm 
Canh bắp cải tép
Sườn xào chua ngọt
Đu đủ
Uống sữa
Bánh flan
Cơm 
Canh bí đao thịt
Đậu hũ dồn thịt kho
Măng cụt
Sữa
Thứ bảy
Xôi lạp xưởng
Nước ép ổi
Sữa
Bánh canh cua 
Chè đậu đen nước dừa
Uống sữa
Dưa gang
Cơm 
Canh cải xanh cá thác lác
Mực xào thơm
Táo
Sữa
Chủ nhật
Hoành thánh
Bánh đậu xanh
Sữa
Bò xào củ hành - Khoai tây chiên 
Yaourt trái cây
Uống sữa
Cơm 
Canh cải soong gan thịt
Tôm kho thịt ba rọi
Xoài
Sữa
 

Chuyên Gia Dinh Dưỡng - Nutifood
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét:

“Tẩm bổ” cho trẻ cũng phải đúng cách

Không có niềm hạnh phúc nào bằng nhìn con yêu bụ bẫm, khôn lớn từng ngày. Cũng chính ở tâm lý luôn muốn con khỏe mạnh phát triển tốt nhất, không ít gia đình đã chẳng quản công sức, tiền bạc để tẩm bổ cho trẻ, ngay cả những thứ đắt tiền và quý hiếm như yến sào, nhung hươu, nhân sâm,.. cũng không tiếc cho con. Nhưng bổ đâu chưa thấy, nhiều bà mẹ phải phiền não vì con hoặc béo phì, hoặc rối loạn sức khỏe hoặc vẫn còi cọc như thường. Việc ưu tiên bổ sung dinh dưỡng cho trẻ là điều tốt, nhưng tẩm bổ cũng phải đúng cách, các mẹ hãy cùng tham khảo những nội dung sau nhé.

Không phải thực phẩm nào trẻ cũng có thể ăn
Nhiều bà mẹ có suy nghĩ món nào mình ăn được thì trẻ cũng ăn được, đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, vì có rất nhiều thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm bổ dưỡng không thích hợp cho trẻ nhỏ hoặc không nên cho trẻ ăn quá nhiều. Ví dụ như nhân sâm, sữa ong chúa, đông trùng hạ thảo, sâm,... được các bác sĩ khuyến cáo không nên dùng cho trẻ dưới 13 tuổi. Những thực phẩm bổ dưỡng này dễ làm thay đổi các nội tiết tố bình thường trong cơ thể, làm cơ thể trẻ phát triển nhanh hơn bình thường dễ đẫn dến dậy thì sớm. Hay nhung hươu, cao ngựa tuy là những thực phẩm hết sức bổ dưỡng, giúp tăng cường cơ bắp, sảng khoái tinh thần, ăn ngủ tốt nhưng cũng không được dùng tùy tiện mà không theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.
Không nên dùng sữa ong chúa cho trẻ dưới 13 tuổi
Chế biến món ăn đúng cách
Việc chế biến món ăn và cho trẻ ăn uống khoa học cũng là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc tẩm bổ cho trẻ, giúp trẻ hấp thụ được dưỡng chất trong món ăn một cách tốt nhất.
Không ít bà mẹ cảm thấy phiền não khi kỳ cạch nấu nướng tỉ mỉ cho con cả buổi mỗi ngày nhưng con vẫn còi cọc, thậm chí suy dinh dưỡng. Khi đó, cần chú ý cách bồi bổ của mẹ cho con có đúng khoa học và hợp lý chưa. Chẳng hạn, ngày nào cũng ninh xương lấy nước nấu cháo cho con nhưng không cho bé ăn xác thực phẩm. Chính hiểu lầm “ngon” ở nước hầm đã làm hoài công người mẹ, vì dù ninh kỹ đến mấy thì dưỡng chất cũng không tan vào nước được như chất đạm (trong cá, tôm, thịt...) và chất xơ trong rau củ. Do đó, nên cho bé ăn cả phần cái và phần nước để bé nhận được đủ dinh dưỡng.

Chú ý về liều lượng và tần suất cho ăn
Đây cũng là một trong những vấn đề mà nhiều bà mẹ thường sai nhất. Thấy món nào con thích ăn là nấu cho ăn suốt, hay nghe nói món này bổ dưỡng là tẩm bổ “vô tội vạ” cho con mà không tìm hiểu về liều lượng và tần suất cho ăn thích hợp, là một trong những nguyên nhân làm bé trở nên biếng ăn hay trầm trọng hơn là còi cọc, rối loạn tiêu hóa.
Nhiều cha mẹ rỉ tai nhau cho con ăn yến sào tốt cho sức khỏe, kích thích ăn uống liền mua về cho con ăn liên tục trong thời gian dài. Trong thành phần của yến tỷ lệ đạm rất cao, trên 30%, có loại tỷ lệ này lên đến 40-50%, ngoài ra còn có các chất dinh dưỡng khác. Với tỷ lệ đạm ở yến cao như vậy, khi trẻ ăn quá nhiều, thậm chí ăn thay cả các bữa ăn khác, sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hoá, thiếu chất do chế độ ăn không cân bằng. 
Chỉ có thể dùng yến cho trẻ từ 1 tuổi trở đi và chỉ hạn chế dùng khoảng 70ml/ngày, xen kẽ với các bữa ăn có các nhóm thực phẩm khác
Với trẻ việc cung cấp dưỡng chất tốt nhất là một bữa ăn luôn đảm bảo 4 nhóm thực phẩm đạm, béo, bột, rau. Các chất này cần được cân đối hài hòa, tránh chỉ chú trọng tới chất béo, chất đạm mà bỏ qua những chất khác. Nếu ăn quá nhiều chất này mà thiếu chất kia thì bé cũng không thể tiêu hóa và hấp thu tốt được.
Chúc các mẹ luôn là những “chuyên gia dinh dưỡng” cho sự phát triển toàn diện của con yêu!
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét:

Cho trẻ ăn bổ sung như thế nào?

Trẻ từ 6 tháng tuổi cần ăn bổ sung vì sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng. Việc cho ăn thêm nếu quá sớm sẽ có hại cho đường tiêu hóa của trẻ, còn nếu quá muộn sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng trẻ em(xem thêm thế nào là suy dinh dưỡng)


Các loại thức ăn cần cho trẻ ở thời kỳ ăn bổ sung
Thức ăn cơ bản là loại giàu tinh bột (gồm ngũ cốc và các loại củ, thường được chế biến dưới dạng bột, cháo, súp), thức ăn giàu đạm nguồn động vật như thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua (được trộn vào bột cháo cho trẻ ăn).                                                   
Các loại đậu đỗ và hạt có dầu: đậu tương, đậu xanh, đậu đen, đậu trắng, đậu đũa, lạc, vừng, hạt hướng dương khi phối hợp với ngũ cốc sẽ trở thành những món giàu đạm thực vật.
 Rau lá màu xanh thẫm và rau quả củ màu vàng, đỏ: rau muống, rau ngót, rau cải, rau dền, bí đỏ, cà chua, cà rốt, đu đủ, xoài... cung cấp sắt, vitamin A, vitamin C và chất xơ chống táo bón.
Dầu, mỡ (dầu đậu nành, dầu lạc, dầu ngô, dầu cọ và mỡ các loại động vật) là nguồn bổ sung năng lượng cho bữa ăn của trẻ và làm cho thức ăn mềm dễ nuốt, tăng hấp thu vitamin.
Vì sao nên cho trẻ ăn bổ sung bắt đầu sau 6 tháng tuổi?
Phải đến lứa tuổi này, trẻ mới có biểu hiện thích thú trong ăn uống, thích cho các vật vào trong miệng. Răng bắt đầu mọc, trẻ biết sử dụng lưỡi để di chuyển thức ăn trong miệng và cử động hàm để nhai. Lúc này, bộ máy tiêu hóa của trẻ phát triển hoàn thiện hơn, có khả năng tiêu hóa thức ăn nhất là tinh bột.
Việc ăn bổ sung quá sớm sẽ không có lợi cho cả mẹ và con vì hệ tiêu hóa của trẻ dưới 6 tháng chưa đủ men tiêu hóa tinh bột, trong khi giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ gấp nhiều lần thức ăn bổ sung và luợng sữa mẹ hoàn toàn đủ cho nhu cầu rất cao của trẻ.
Ăn dặm sớm cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là tiêu chảy vì thức ăn bổ sung không có những yếu tố kháng khuẩn và không sạch như sữa mẹ. Các tác hại khác là giảm tần suất bú của trẻ gây giảm tiết sữa; mẹ sớm có thai trở lại, tăng nguy cơ đẻ con thấp cân.
Ngược lại, nếu ăn bổ sung quá muộn thì trẻ thường bị thiếu chất, chậm lớn, tăng nguy cơ mắc bệnh.
Chuyên Gia Dinh Dưỡng - NutiFood
            Theo nutifood.com.vn
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét:

Bé biếng ăn phải làm sao?

Phụ huynh cần tạo cho bé cảm giác vui vẻ thưởng thức món ăn, cho bé ăn theo nhu cầu, hãy để bé đói mới cho ăn, không cho bé ăn gì trước bữa ăn chính 2 giờ. 

- Con tôi năm nay 3 tuổi, cao 100cm và nặng 15,5kg. Cháu rất lười ăn và ăn rất ít. Bữa ăn nào cũng kéo dài cả tiếng đồng hồ. Tôi thấy cháu chắc thuộc dạng suy dinh dưỡng thấp còi, tôi phải làm gì, có nên đổi sữa biếng ăn cho cháu không? (NGUYỄN MỸ TH.)
Chào bạn! Bé yêu nhà mình hiện đang có cân nặng và chiều cao rất tốt theo lứa tuổi, điều này chứng tỏ chế độ ăn hiện tại đã đủ nhu cầu của bé, bạn không nên quá lo lắng. Nếu trong giai đoạn này bé vẫn năng động, hoạt bát, chơi, ngủ bình thường, có thể bé biếng ăn do tâm lý, do bé đang có sự thay đổi như đi mẫu giáo, đang tập làm quen môi trường mới... thường sẽ trở lại bình thường sau vài tuần. Hoặc có thể do bạn quá lo sợ bé ăn ít sẽ bị bệnh, bị suy dinh dưỡng nên cố ép bé ăn làm bé sợ bữa ăn. Nếu không điều chỉnh kịp thời, từ biếng ăn tâm lý có thể chuyển sang bệnh biếng ăn thật sự.
Trường hợp bé nhà mình, nhu cầu dinh dưỡng bé cần khoảng 1.200kcal/ngày. Nếu bạn lo sợ bé suy dinh dưỡng, có thể bạn mong muốn bé ăn nhiều hơn theo suy nghĩ của bố mẹ, sợ bé ăn chưa đủ, mặc dù đã quá nhu cầu của bé nên bạn sẽ thấy bé ăn ít, biếng ăn. ( Xem thêm thế nào là suy dinh dưỡng )
Lứa tuổi này bé rất hiếu động, tò mò, thích khám phá, nếu bạn cứ cho mãi món ăn quen thuộc, không cho bé tự xúc ăn, thậm chí dùng tay bốc món ăn vì sợ bẩn, sợ đổ thức ăn, cũng khiến bé chán bữa ăn… Bạn nên thay đổi cách chế biến món ăn, đảm bảo không quá cứng hoặc quá mềm so với lứa tuổi, trình bày món ăn bắt mắt. Đồng thời hãy tạo cho bé cảm giác vui vẻ thưởng thức món ăn, cho bé ăn theo nhu cầu, hãy để bé đói mới cho ăn, không cho bé ăn gì trước bữa ăn chính 2 giờ. Mạnh dạn ngưng bữa ăn sau 30 phút, cho dù bé ăn chưa hết suất. Nên cho ăn đúng giờ, ăn cùng gia đình, ăn cùng trẻ khác, cho bé tự xúc thức ăn, tập trung vào bữa ăn, không lấy ti vi, máy iPad dụ dỗ bé ăn, cũng không sốt ruột, cáu gắt làm bé sợ hãi.
Về sữa, trong giai đoạn bé ăn ít bạn có thể dùng sữa dành cho trẻ biếng ăn có năng lượng cao, nhiều dưỡng chất thiết yếu, giúp bổ sung năng lượng và tạo sự ngon miệng cho bé trong một thời gian, kết hợp thay đổi cách cho ăn như trên. Khi bé ăn uống ngon miệng, bạn có thể dùng sữa thông thường theo độ tuổi. Bạn nên theo dõi cân nặng của bé, nếu bé tăng từ 100-200g/tháng là bình thường, bạn có thể yên tâm vì bé đã ăn đủ nhu cầu rồi nhé. Chúc bé ăn ngoan, chóng lớn. Thân ái chào bạn!
- Con trai tôi 16 tháng, biếng ăn nhiều tháng nay, bé hay bị viêm đường hô hấp, cân nặng giảm còn 9kg, cao 81cm. Tôi thay đổi cách chế biến món ăn, không cho ăn bữa ăn phụ và uống sữa trước bữa ăn chính... nhưng vẫn không cải thiện. Bác sĩ có thể cho thuốc giúp cháu ăn ngon không? (PHAN NGỌC T.)
Chào bạn! Hiện tại trên thị trường không có thuốc trị biếng ăn, chỉ có thuốc trị bệnh khác có tác dụng phụ kích thích bé ăn, không nên sử dụng. Bạn cũng không nên tự ý ra ngoài mua thuốc gia truyền, thuốc đông y, men tiêu hóa, thuốc bổ trị biếng ăn như quảng cáo. Trường hợp bé nhà mình hay bị viêm đường hô hấp là một nguyên nhân gây biếng ăn, việc phải dùng kháng sinh nhiều có thể ảnh hưởng hệ tiêu hóa cũng gây biếng ăn. Do đó nếu bé ho, sốt, tiêu chảy, tiêu phân sống, bụng chướng, ói, nên đưa bé đi khám để được điều trị triệt để. Với cân nặng hiện tại, bé đang có nguy cơ suy dinh dưỡng, có thể bé biếng ăn lâu ngày nên không cung cấp đủ năng lượng, vitamin, protein để tạo enzym tiêu hóa thức ăn, vì vậy dù bạn đã thay đổi cách chế biến, chia khoảng cách các bữa ăn hợp lý nhưng bé vẫn không muốn ăn. Tốt nhất bạn nên đưa bé đến bác sĩ chuyên khoa để khám tìm nguyên nhân, xem bé có biểu hiện thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm, thiếu canxi, thiếu vitamin... hay không, trên cơ sở đó bác sĩ sẽ cho bé bổ sung đúng nhóm chất bé đang thiếu. Kết hợp chế độ ăn như bạn đã biết, đồng thời nên cho bé uống sữa dành cho trẻ biếng ăn, giàu năng luợng, dễ tiêu hóa, giúp cung cấp đủ năng lượng, vitamin và khoáng chất thiết yếu giúp bé ngon miệng hơn, giúp cải thiện nhanh tình trạng biếng ăn của bé. Chúc bé ăn ngon miệng, mau phục hồi sức khỏe!
Chuyên Gia Dinh Dưỡng - NutiFood
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét:

Tại sao con chậm tăng cân?

Về sinh lý, quá trình trao đổi chất của trẻ em mạnh hơn người lớn, bé ra nhiều mồ hôi để điều hòa nhiệt độ cơ thể và tuyến mồ hôi hoạt động mạnh về đêm.

Hỏi: Bé trai nhà tôi 28 tháng, nặng 12kg, cao 92 cm. Cháu thông minh, lanh lợi, ăn uống được nhiều loại thức ăn, nhưng không tăng cân. Không biết cháu có bệnh gì không? Bác sĩ có thể cho biết nguyên nhân làm bé chậm tăng cân?
Trả lời: Chào bạn! Bé nhà mình có cân nặng thấp hơn chuẩn, nhưng vẫn nằm trong giới hạn bình thường, chiều cao của bé phát triển tốt, bạn không nên quá lo lắng. Một số nguyên nhân làm bé chậm tăng cân bạn cần lưu ý:
Chưa cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng theo lứa tuổi của cháu: Bạn nên duy trì thói quen cho bé ăn đa dạng các loại thức ăn, kiểm tra số lượng, chất lượng, đảm bảo tính an toàn vệ sinh thực phẩm và tỷ lệ cân đối 4 nhóm dưỡng chất.
Cụ thể bé từ 2-5 tuổi nhu cầu khuyến nghị:
- Nhóm bột đường như gạo 120-160g/ngày (1 chén cơm vừa khoảng 60g gạo), có thể thay thế phở, bánh mì, nui, khoai...
- Nhóm chất đạm như thịt nạc khoảng 120-140g/ngày, có thể thay thế cá, trứng, tôm, cua... nếu là cá tôm 140-160g, 1 trứng thay thế 40g thịt, 1 tuần ăn 2-3 trứng.
- Nhóm chất béo như dầu ăn hoặc mỡ 40 ml/ngày.
- Nhóm giàu vitamin và khoáng chất: Rau củ quả khoảng 150-200g/ngày.
- Và sữa từ 500ml/ngày trở lên. Bạn nên chọn các loại sữa có năng lượng cao dành cho trẻ khỏe mạnh để cung cấp đủ nhu cầu năng lượng giúp cho cháu phát triển thể chất tốt. Bình thường sau 2 tuổi bé tăng 200g/tháng, cao 0,5-0,8cm.
Cách chế biến, kết hợp món ăn không đúng: Làm giảm giá trị dinh dưỡng của thực phẩm như uống sữa cùng lúc uống nước cam, uống nước ngọt có gas, ăn quá nhiều chất đạm mà thiếu rau quả, ăn quá mặn làm giảm hấp thu canxi, hoặc vitamin B1, vitamin C trong rau xanh dễ bị mất nếu ngâm nước quá lâu, nấu nhừ, không đậy nắp khi nấu.
Thời gian các bữa ăn không hợp lý: Do ban ngày bố mẹ bận đi làm, tối về cho con ăn bù, trong khi đó buổi sáng và trưa là thời gian tiêu hóa, hấp thu thức ăn tốt nhất. Nếu bé ăn no, uống sữa gần giờ đi ngủ, uống sữa đêm làm bé ngủ không ngon giấc ảnh hưởng tiết hormon tăng trưởng làm bé chậm lớn.
Chế độ sinh hoạt có nhiều xáo trộn, ăn uống không điều độ, thức khuya, ngủ sau 22 giờ, ngủ không đủ giấc, ngủ ít hơn 8 tiếng/ngày: Đều ảnh hưởng đến bài tiết dịch tiêu hóa, yếu tố thần kinh, yếu tố nội tiết... làm bé chậm tăng cân.
Một số bệnh lý không được phát hiện như thiếu vi chất, nhiễm giun sán, táo bón, nhiễm trùng tai mũi họng, đều ảnh hưởng sức khỏe của bé.
Bạn nên tìm nguyên nhân, có giải pháp khắc phục sớm để cháu khỏe mạnh, tăng cân và phát triển chiều cao đúng theo lứa tuổi, ngăn ngừa tình trạng suy dinh dưỡng.
Hỏi: Con trai tôi 4 tuổi nặng 15kg, cao 100cm. Cháu ăn uống bình thường, rất tinh nghịch, chạy nhảy suốt ngày, ra mồ hôi rất nhiều, đêm cũng ra mồ hôi trộm, thỉnh thoảng đau nhức 2 bắp chân. Có phải do cháu vận động nhiều quá nên nhu cầu dinh dưỡng của cháu ăn vào không đủ hay do bé bị thiếu canxi nên chậm lớn thưa bác sĩ?
Trả lời: Đối với những bé hiếu động như bé nhà mình thì năng lượng bạn cung cấp cho cháu phải nhiều hơn nhu cầu các bé bình thường! Bé nhà mình theo biểu đồ tăng trưởng vẫn trong giới hạn bình thường, nhưng cân nặng thua chuẩn trung bình 1kg, bé không tăng cân chứng tỏ chế độ ăn chưa cung cấp đủ nhu cầu năng lượng cho cháu.
- Về sinh lý, quá trình trao đổi chất của trẻ em mạnh hơn người lớn, bé ra nhiều mồ hôi để điều hòa nhiệt độ cơ thể và tuyến mồ hôi hoạt động mạnh về đêm. Bé ra mồ hôi đêm có thể do sinh lý, hoặc do bé lo lắng, căng thẳng trước khi ngủ, hoặc do đắp chăn dày, nhiệt độ phòng nóng. Hoặc đổ mồ hôi trộm bệnh lý do thiếu canxi và vitamin D, bé sẽ còi xương, chậm lớn, hay bị chuột rút, biếng ăn, dễ mắc bệnh đường hô hấp, cũng có bé ra mồ hôi trộm khi mắc bệnh mãn tính khác. Tốt nhất bạn nên cho cháu kiểm tra sức khỏe để loại trừ những bệnh này.
- Bạn nên cho cháu ăn nhiều hơn hiện tại một chút, chú ý khẩu phần đủ và cân đối dưỡng chất, tăng số lượng sữa trên 600ml mỗi ngày, chọn sữa giàu dinh dưỡng giúp tăng cân. Để biết năng lượng bạn cung cấp có đủ cho cháu không bạn nên cân đo cháu mỗi tháng, theo dõi trên biểu đồ tăng trưởng tham khảo tại http://www.nutifood.com.vn/vi/nhat-ky-suc-khoe/bmi-tre-em.html để điều chỉnh chế độ ăn hợp lý.
Khi cơ thể ra nhiều mồ hôi dẫn đến thiếu nước, vitamin và khoáng chất. Nên bạn phải thường xuyên cho cháu uống nước ngay cả khi cháu không khát. Những lúc cháu ra quá nhiều mồ hôi nên cho cháu uống nước oresol, nước chanh đường muối, nước dừa... Cố gắng sắp xếp thời gian để cháu vừa có hoạt động thể chất, vừa có những hoạt động trí tuệ để cháu phát triển toàn diện.
BS CK1 Hoàng Hồ Thống Nhất - Chuyên gia Dinh dưỡng NutiFood
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét:

Nuôi trẻ lớn nhanh khỏe mạnh

Trong chăm sóc trẻ, các bà mẹ luôn muốn biết mình cho con ăn uống đã đúng chưa, trẻ tăng cân hợp lý chưa, cũng như phải theo dõi và điều chỉnh chế độ ăn cho trẻ như thế nào là phù hợp nhất?

Theo dõi tăng trưởng của trẻ
Thật sự không thể cân đong đo đếm chính xác năng lượng hàng ngày của trẻ được, nhưng chúng ta có thể biết được trẻ ăn đã đủ hay thiếu hay dư thừa là nhờ vào sự tăng cân của trẻ hàng tháng, so sánh với biểu đồ tăng trưởng. Nếu cân nặng của trẻ tăng quá nhanh so với chuẩn thì trẻ đã bị dư thừa năng lượng rồi. Trường hợp trẻ không tăng cân hoặc tăng cân quá ít so với chuẩn chứng tỏ trẻ đang bị thiếu năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày.
Như vậy, việc theo dõi tăng trưởng của trẻ có thể giúp các mẹ nuôi trẻ “mập ốm” theo ý muốn rồi đó, bằng cách tăng giảm khẩu phần ăn của trẻ. Tuy nhiên, các mẹ nên thay đổi quan niệm một chút nhé, không nên đánh giá sức khỏe của trẻ bằng cách nhìn bề ngoài “tròn tròn, bụ bẫm” là “khỏe mạnh, dễ thương”. Mà cần phải theo dõi sự phát triển của trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng, và trẻ khỏe mạnh là trẻ cân đối, có cân nặng chiều cao trong giới hạn bình thường theo tuổi, trẻ không suy dinh dưỡng cũng không thừa cân béo phì.
Trẻ tăng cân nhanh có tốt không?
Trẻ phát triển tốt nhất là tăng cân trong giới hạn bình thường theo độ tuổi, ở trẻ trên 1 tuổi mỗi năm tăng từ 2 - 3kg là bình thường, mỗi tháng trẻ tăng từ 100 - 200g tối đa 300g, nếu tháng nào trẻ tăng hơn 300g chứng tỏ mẹ đang cho trẻ ăn thừa năng lượng, cần giảm các thức ăn cung cấp nhiều năng lượng trong khẩu phần của trẻ như cháo, cơm, bún, phở..., dầu, mỡ... so với hiện tại, không cho trẻ ăn bánh, kẹo ngọt, chè, kem... nhưng chú ý đảm bảo đủ đạm thiết yếu cho trẻ từ thịt, cá nạc, đậu đỗ, sữa... nên chọn sữa thấp năng lượng, ít béo, ít đường, tăng cường rau xanh, trái cây ít ngọt... Nếu mẹ điều chỉnh kịp thời sẽ giúp phòng chống thừa cân béo phì cho trẻ.
Làm gì khi trẻ chậm tăng cân?
Trẻ chậm tăng cân, nếu không phải trẻ đang bệnh hoặc mới khỏi bệnh chứng tỏ chế độ dinh dưỡng cho trẻ đang bị thiếu, đầu tiên là thiếu năng lượng, sau đó là các chất dinh dưỡng như đạm, béo, vitamin, khoáng chất... Lúc này, cần tăng cường chế độ dinh dưỡng giúp trẻ tăng cân nhiều hơn để phòng tránh suy dinh dưỡng
Chế độ ăn lúc này tốt nhất nên nhiều hơn ngày thường mỗi ngày một bữa để bù vào phần thiếu hụt, tùy độ tuổi có thể là cơm, cháo hoặc sữa... Khẩu phần ăn hàng ngày vừa đảm bảo đủ vừa đảm bảo tính cân đối giữa năng lượng và các chất dinh dưỡng (4 nhóm thức ăn chính), giữa các chất dinh dưỡng với nhau, trong đó cần chú ý tỷ lệ hợp lý protein nguồn gốc động vật và protein nguồn gốc thực vật, các loại vitamin (A, B, C, D) và các khoáng chất như canxi, phospho, kẽm... Sử dụng các loại thực phẩm giàu dưỡng chất, giàu năng lượng, giàu protein, chất khoáng và vitamin cho bữa ăn của trẻ như đậu, rau xanh, quả chín, thịt, cá, trứng, sữa... và dầu mỡ trong mỗi bữa ăn, nên chọn sữa giúp tăng cân phù hợp theo độ tuổi.
Chế biến thức ăn đảm bảo hợp vệ sinh, cách nấu phải phù hợp sự tiêu hóa của mỗi độ tuổi, ví dụ trẻ chưa có răng phải nấu nhừ, băm nhuyễn, trẻ đủ răng có thể nhai thức ăn lợn cợn hơn, nguyên miếng nhưng cũng chú ý cắt thật mỏng, nấu thật mềm giúp bé dễ nhai, dễ nuốt và tiêu hóa tốt hơn. Ngược lại, cùng một loại thức ăn nhưng nếu cho bé ăn cứng hoặc quá thô có thể làm tăng “gánh nặng” cho hệ tiêu hóa của trẻ, làm trẻ khó hấp thu hết gây thiếu hụt dinh dưỡng và còi cọc.
Cho trẻ ăn đúng cách, ngay từ khi trẻ bắt đầu ăn dặm, các mẹ cần chú ý tạo cho trẻ ăn uống đúng giờ, tạo nền nếp ăn uống tốt, chia đều các bữa ăn trong ngày, không cho trẻ ăn lặt vặt giữa các bữa này vì sợ trẻ đói, khiến trẻ luôn có cảm giác no, không muốn ăn gây chán ăn dẫn đến thiếu dinh dưỡng. Hãy để trẻ đói trẻ sẽ ăn ngon miệng và hiệu quả dinh dưỡng cao hơn. Không nên biến bữa ăn trở thành áp lực với trẻ như la rầy, bắt ép trẻ ăn khi trẻ no hoặc không muốn ăn nữa. Nên chuẩn bị thức ăn thay thế bù vào (có thể là sữa hoặc bánh flan, chè...) khi trẻ bỏ bữa hoặc ăn được ít, không để trẻ đói, thiếu dinh dưỡng.
Dinh dưỡng đúng cách giúp trẻ phát triển cân đối, toàn diện, lớn nhanh, khỏe mạnh không để trẻ em suy dinh dưỡng nhưng cũng luôn lưu ý không ép trẻ ăn quá nhu cầu, thừa năng lượng gây thừa cân béo phì.
(BS CK1 Trần Thị Minh Nguyệt - Thành viên HĐQT Cty NutiFood)
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét:

Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển. Đây là tình trạng bệnh lý hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi.

1. Nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em:
Thường là do tổng hợp từ nhiều yếu tố:
- Do dinh dưỡng: Nuôi trẻ không đúng phương pháp khi mẹ thiếu hoặc mất sữa, cho trẻ ăn bổ sung không đúng cả về số lượng và chất lượng, nguyên nhân quan trọng nhất hay gặp là do bà mẹ thiếu kiến thức dinh dưỡng hoặc không có thời gian chăm sóc con cái.
- Do ốm đau kéo dài: Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa nhiều lần, biến chứng sau các bệnh viêm phổi, sởi, lỵ…
- Do thể tạng dị tật: Trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, các dị tật sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh.
- Do điều kiện kinh tế xã hội: Suy dinh dưỡng là một bệnh của nghèo nàn và lạc hậu, có liên quan đến kinh tế, văn hóa, dân trí. Đây là mô hình hệ bệnh tật đặc trưng của các nước đang phát triển.
Muốn biết trẻ có bị suy dinh dưỡng hay không các bà mẹ cần phải theo dõi cân nặng thường xuyên cho trẻ trên biểu đồ phát triển. Nếu thấy 2-3 tháng liền trẻ không tăng cân cần phải đưa trẻ đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân.
Theo tiêu chuẩn cân nặng/tuổi người ta chia suy dinh dưỡng làm 3 độ:
- Suy dinh dưỡng Độ I: Trọng lượng còn 90% so với tuổi
- Suy dinh dưỡng Độ II: Trọng lượng còn 75% so với tuổi
- Suy dinh dưỡng Độ III: Trọng lượng còn dưới 60% so với tuổi.
- Không lên cân hoặc giảm cân
- Teo mỡ ở cánh tay, thịt nhẽo.
- Teo nhỏ: mất hết lớp mỡ dưới da bụng.
- Da xanh, tóc thưa rụng dễ gãy, đổi màu.
- Ăn kém, hay bị rối loạn tiêu hóa: ỉa phân sống, ỉa chảy hay gặp.
- Thể nặng: Có phù hoặc teo đét, có thể biểu hiện của thiếu vitamin gây quáng gà, khô giác mạc đến loét giác mạc. Hiện nay thể nặng rất hiếm gặp.
3. Các bà mẹ cần phải làm gì khi trẻ bị suy dinh dưỡng.
Với thể vừa và nhẹ (độ I và độ II): Điều trị tại nhà bằng chế độ ăn và chăm sóc.
- Chế độ ăn: Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu, bất cứ lúc nào kể cả ban đêm.
- Nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa: Dùng các loại sữa bột công thức theo tháng tuổi, sữa cho trẻ suy dinh dưỡng hoặc dùng sữa đậu nành (đậu tương).
- Đối với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên cho trẻ ăn bổ sung theo tháng tuổi nhưng số bữa ăn phải tăng lên, thức ăn phải nấu kỹ, nấu xong ăn ngay.
- Tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn bằng cách cho tăng thêm enzym (men tiêu hóa) trong các hạt nảy mầm để làm lỏng thức ăn và tăng độ nhiệt lượng của thức ăn. Cụ thể là: có thể dùng giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn cho trẻ, tức là có thể tăng lượng bột khô lên 2-3 lần mà độ lỏng của bột không thay đổi. Cứ 10g bột cho 10g giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước.

4. Những loại thực phẩm nên dùng cho trẻ suy dinh dưỡng.
- Gạo, khoai tây.
- Thịt: gà, lợn, bò, tôm, cua, cá, trứng.
- Sữa bột giàu năng lượng: Theo hướng dẫn cụ thể của Bác sĩ.
- Dầu, mỡ.
- Các loại rau xanh và quả chín.

5. Chế độ ăn với bé suy dinh dưỡng nặng (độ III).
Cho nhiều bữa trong ngày.
- Tăng dần calo.
- Dùng sữa cao năng lượng: Theo chỉ định và tư vấn trực tiếp của Bác sĩ
Trẻ cần được ăn bổ sung theo các chế độ ăn giống như trẻ bình thường. Số lượng một bữa có thể ít hơn nhưng số bữa ăn nhiều hơn trẻ bình thường.
Những trẻ có suy dinh dưỡng nặng kèm theo tiêu chảy hoặc viêm phổi phải đưa vào điều trị tại bệnh viện.

6. Ngoài chế độ ăn còn cho trẻ ăn bổ sung thêm một số Vitamin và muối khoáng.
- Các loại Vitamin tổng hợp.
- Chế phẩm có chứa sắt chống thiếu máu.
- Men tiêu hóa (nhưng phải dùng theo chỉ định của thầy thuốc).
7. Chăm sóc bé bị suy dinh dưỡng.
- Bé phải được vệ sinh, tắm rửa sạch sẽ.
- Phải giữ ấm về mùa đông, phòng ở thoáng mát về mùa hè, đầy đủ ánh sáng.


8. Một số mẫu thực đơn phục hồi trẻ suy dinh dưỡng tại nhà (SDD độ I và II).
Các bạn có thể tham khảo và áp dụng một số thực đơn sau để phục hồi trẻ suy dinh dưỡng tại nhà:
- Trẻ dưới 6 tháng: Bú sữa mẹ theo nhu cầu của trẻ. Chú ý chăm sóc dinh dưỡng cho Bà mẹ để mẹ có đủ sữa nuôi con (Bà mẹ cần ăn đủ, ngủ tốt, làm việc nhẹ nhàng). Trường hợp mẹ không đủ sữa mà phải dùng các sản phẩm thay thế sữa mẹ thì phải có chỉ định của Bác sĩ.
- Trẻ từ 6 – 12 tháng:
Cho trẻ ăn nước cháo xay trộn sữa như trên nhưng tăng thêm lượng thịt, gạo và rau củ, trường hợp trẻ không thích ăn cháo trộn sữa thì dùng sữa cao năng lượng pha với nước sôi để ấm theo hướng dẫn mỗi ngày uống 500ml và cho ăn bột hoặc cháo xay 3 -4 bữa/ngày, trẻ ăn ít có thể tăng số bữa lên, dùng nước giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn: 10g giá đậu xanh/10g bột (giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước nấu bột).
- Trẻ 13 -24 tháng:
6h: 150 – 200ml sữa cao năng lượng
9h: Cháo thịt + rau: 200ml (1 bát ăn cơm)
- Gạo tẻ: 30g (1 nắm tay)
- Thịt nạc: 50g (hoặc cá, tôm, cua: 50g, trứng gà: 1 quả)
- Dầu: 10ml (2 thìa cà phê)
- Rau xanh: 20g (2 thìa cà phê)
12h: Sữa: 200ml
14h: Chuối tiêu: 1 quả hoặc đu đủ 1 miếng
17h: Cháo thịt (cá, tôm, trứng) + rau + dầu
Nếu trẻ đang bú mẹ vẫn phải tiếp tục cho bú và thời gian cho bú kéo dài từ 18 – 24 tháng. Khi cai sữa vẫn nên cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành.
Trẻ 25 – 36 tháng:

7h: Sữa cao năng lượng: 200ml
11h: Cơm nát + thịt (cá, trứng, tôm...) + canh rau.
Cơm: 2 lưng bát (70g gạo), thịt: 50g (hoặc trứng: 1 quả), rau: 100g, dầu (mỡ): 5g
14h: Cháo + thịt + rau + dầu: 200ml
Gạo tẻ: 30g (1 nắm tay), thịt nạc: 50g (hoặc cá, tôm, cua: 50g, trứng gà: 1 quả), dầu: 10ml (2 thìa cà phê), rau xanh:
20g (2 thìa cà phê).
17h: Cơm nát + trứng (thịt, cá, tôm...) + canh rau
20h: Hỗn hợp bột dinh dưỡng: 200ml, hoặc súp: khoai tây thịt + rau + dầu (mỡ): 1 bát con.
Súp khoai tây gồm có khoai tây: 100g (1 củ to), thịt (gà, bò, lợn): 50g, bắp cải: 50g, dầu (mỡ): 1 thìa cà phê.
Ăn thêm các loại quả chín theo nhu cầu của trẻ.
(PGS. TS. Nguyễn Thị Lâm, ThS. Lê Thị Hải - Theo Viện Dinh dưỡng)
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét:

Cha mẹ và nỗi lo con thấp bé nhẹ cân

Là cha mẹ ai cũng mong muốn dành cho con những gì tốt đẹp nhất, ai cũng có thể hy sinh thời gian, tiền bạc và công sức để chăm sóc, nâng niu các thiên thần nhỏ của mình với ước mong con khỏe mạnh, cao lớn, thông minh…

Tuy nhiên, mỗi đứa trẻ lại có cơ địa khác nhau, được chăm sóc dinh dưỡng khác nhau và tất nhiên sự phát triển cũng khác nhau, trong số đó có không ít trẻ rơi vào tình trạng thấp bé nhẹ cân và chậm lớn.
Cách nào xác định trẻ thấp bé nhẹ cân, chậm lớn?
Bạn hãy theo dõi cân nặng và chiều cao của trẻ từ 1 - 5 tuổi hàng tháng vào một ngày nhất định và chấm vào biểu đồ tăng trưởng của bé, bạn nên cân đo trên cùng 1 cái cân và 1 cây thước nhé, để con số theo dõi được chính xác nhất. Với bé dưới 24 tháng bạn đo chiều dài khi bé nằm, còn bé từ 2 - 5 tuổi bạn đo chiều cao khi bé đứng. Chú ý mỗi bé sẽ có 2 biểu đồ theo dõi cân nặng theo tuổi và chiều cao theo tuổi, đồng thời biểu đồ của bé trai và bé gái cũng khác nhau.
Nếu các điểm này nằm trong giới hạn từ số -2 đến số 2 ở cột phải của mỗi bảng hay nằm trong vùng màu xanh chứng tỏ bé nhà bạn đang phát triển rất tốt; sau đó hãy nối các điểm này lại với nhau, trường hợp cân nặng, chiều cao của bé ở trong khoảng này nhưng lại có xu hướng nằm ngang hoặc đi xuống là bé đang có nguy cơ thiếu dinh dưỡng, còn nếu nằm dưới đường này thì bé đã suy dinh dưỡng nhẹ cân hoặc thấp còi rồi, bạn cần phải tìm hiểu nguyên nhân để nhanh chóng khắc phục cho bé.
Những nguyên nhân khiến trẻ thấp bé nhẹ cân
Sai lầm trong nuôi dưỡng
  • Trẻ không được bú mẹ đầy đủ, đặc biệt là trong 6 tháng đầu hoặc bị cai sữa mẹ sớm, nuôi dưỡng không đúng phương pháp khi trẻ thiếu hoặc không có sữa mẹ.
  • Cho ăn dặm quá sớm (trước 4 tháng tuổi), hoặc không biết cách cho con ăn thêm bột, rau, trái cây, đạm, đặc biệt là chất béo … ngoài những bữa bú mẹ sau 6 tháng.
  • Không biết ép trẻ ăn khi mắc bệnh lại dễ dàng kiêng cữ mọi thứ khi trẻ bệnh chỉ cho ăn cháo muối hoặc cháo đường kéo dài nhiều ngày.
  • Nuôi dưỡng kém vệ sinh, trẻ không được chủng ngừa theo lịch…
Do bệnh lý
Bệnh nhiễm trùng như các viêm nhiễm đường hô hấp, đường tiêu hoá tái phát, biến chứng hậu sởi, tiêu chảy kéo dài…
Bệnh không do nhiễm trùng: 
  • Các bệnh làm tăng nhu cầu chuyển hóa như cường giáp, bỏng, phẫu thuật, chấn thương, bệnh lý có dùng corticoid.
  • Bệnh làm mất chất dinh dưỡng, qua đường ruột (bệnh ruột mất đạm, hội chứng ruột ngắn, cắt dạ dày hay ruột non, cắt nối ruột, dò đường tiêu hóa, hội chứng kém hấp thu, tiêu chảy nặng, suy tụy), qua thận (hội chứng thận hư, lọc thận mạn tính), các bệnh lý khác (vết thương hở, dẫn lưu áp xe, tràn dịch màng phổi dịch tiết)...
  • Các bệnh mạn tính như đái tháo đường, suy thận mạn, suy tim, bệnh gan mạn, viêm loét dạ dày, viêm khớp mạn, chậm phát triển tâm thần vận động, động kinh, hôn mê kéo dài.
Do cơ địa đặc biệt
Trẻ sinh non, suy dinh dưỡng bào thai, dị tật bẩm sinh (dị tật hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, bệnh lý nhiễm sắc thể)…
Làm gì khi con thấp bé - nhẹ cân
Bạn phải thật bình tĩnh khi thấy bé bắt đầu có biểu hiện nguy cơ thấp bé nhẹ cân hoặc đã thấp bé nhẹ cân để tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục. Tốt nhất bạn hãy đưa bé đến bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ dinh dưỡng để được khám và tư vấn đầy đủ. Khi đã biết được nguyên nhân, nếu do bệnh tật bác sĩ sẽ điều trị khỏi cho bé, nếu do chế độ dinh dưỡng bạn sẽ được tư vấn cách chăm sóc và bổ sung dinh dưỡng cho bé để giúp bé nhanh chóng thoát khỏi tình trạng thấp bé nhẹ cân và phát triển toàn diện.
Chuyên Gia Dinh Dưỡng - Nutifood
Xem thêm các chủ đề:

0 nhận xét: